Bình chọn
Đánh giá của bạn về Cổng thông tin điện tử?
42 người đã bình chọn
 Thống kê truy cập
Thống kê: 20.816
Online: 258

1. Đặc điểm chung

Lâm Xa là một xã nằm ở khu vực trung tâm của huyện Bá thước, bao bọc thị trấn Cành Nàng, Cách Thành Phố -  Thanh Hóa khoảng 110 km về phía tây.

- Phía Bắc và Tây Bắc gipá xã Ban Công

- Phía Đông bắc giáp xã Tân Lập

- Phía Nam và Tây Nam giáp xã Thiết Ống.

- Phía Đông Nam giáp xã Ái Thượng.

 Lâm Xa nằm trên đầu mối giao thông quan trọng, có đường Quốc lộ 217 chạy qua, đồng thời là cửa ngõ của khu du lịch sinh thái Pù Luông, có hang làng tráng là di tích khảo cổ đã được UBND tỉnh Thanh hóa xếp hạng di tích lịch sử danh lam thắng cảnh cấp tỉnh. Ngoài ra Lâm Xa còn có dòng sông chạy dọc theo từ đầu xã đến cuối xã, do đó Lâm Xa có những nét đặc trưng riêng của vùng miền núi đã tạo nên vùng đát có vị trí quan trong trong phát triển  kinh tế của huyện Bá Thước. Có diện tích đất tự nhiên 1.100,02 ha có 1022 hộ với 3990 nhân khẩu, dân cư được chia thành 9 Thôn. Gồm: Thôn Tráng, Thôn Vận tải; Thôn Phố 1, Thôn Sán, Thôn Cành Nàng, Thôn Nú, Thôn Mốt, Thôn Đắm, Thôn Phố 2. Nhân dân Lâm Xa vốn có truyền thống anh dũng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và cần cù trong lao động sản xuất, luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết một lòng xây dựng quê hương ngày thêm đổi mới, giầu đẹp.

Hệ thống chính trị luôn phát huy và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, quản lý điều hành, tổ chức thực hiện và tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành tốt các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt pháp lệnh dân chủ ở cơ sở và hương ước của thôn.

Hiện nay, xã Lâm Xa có 2/3 trường học đạt danh hiệu cơ quan  văn hóa. Có 5 làng được công nhận làng văn hóa. Trường Mầm Non đạt danh hiệu cơ quan văn hóa năm 2014, Trường Tiểu học đạt danh hiệu cơ quan văn hóa năm 2008. và được công nhận chuẩn Quốc gia mức độ I năm 2014. Xã có 12 chi bộ đảng với tổng số Đảng viên là 190 đảng viên (Trong đó có 9 chi bộ thôn, 3 chi bộ ngành).

2. Truyền thống Lịch sử - Văn hóa - Danh lam thắng cảnh.

          Cùng với sự phát triển của đất nước, trong những năm qua tình hình xã hội xã Lâm Xa ổn định, và từng bước phát triển. Người dân trong xã gồm có 3 dân tộc là chủ yếu gồm người dân tộc Kinh, Thái, Mường luôn đoàn kết hăng hái thi đua lao động sản xuất. Trình độ dân trí ngày càng được nâng cao. Dân cư sống tương đối tập trung, số hộ nghèo giảm đáng kể.

          Để thúc đẩy nhanh và phát triển mạnh mẽ các điều kiện xã hội trên địa bàn xã Lâm Xa, Đảng uỷ- UBND và các ban ngành chú trọng tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và của địa phương gắn với các hoạt động văn hoá mà cụ thể là các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” phong trào “chung tay xây dựng nông thôn mới” đưa ra các chính sách phát triển xã hội trong toàn xã nhằm nâng cao đời sống xã hội của nhân dân, mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế trong toàn xã.

Truyền thống văn hóa ở đây là sự giao thoa của 3 dân tộc anh em.

Người Mường ở đây bao gồm có cả Mường bản địa (Mường Trong) đã sống rất lâu đời trên vùng đất này cùng với dân di cư từ Mường Ngoài vào đã hội tụ nên nền văn hóa bản Mường. Tiếng nói của Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á), rất gần với tiếng Việt nhưng lại không có chữ viết. Tuy không có chữ viết riêng nhưng người Mường có một kho tàng văn nghệ dân gian khá phong phú, các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ, có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố… Từ xa xưa đã xuất hiện bộ sử thi Đẻ đất đẻ nước kể về gốc tích và công cuộc đấu tranh của người Mường ở thời đại rất xa xưa, chứa đựng những quan niệm người Mường cổ về việc hình thành trời đất, tạo lập thế giới; các truyện thơ như: “Nàng Nga, Hai Mối”; “Nàng Ờm, chàng Bồng Hương”; “Út trót”…

Người Mường ở vùng đất Lâm Xa sống tập trung thành làng xóm, trước đây đại bộ phận là ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái là kiểu kiến trúc cổ truyền.

Ðám cưới: Phải qua các bước: Dạm ngõ (Dạm dâu), đi hỏi vợ (bỏ trầu), lễ ra mắt rễ (Nom náy), lễ nạp tài, lễ đón dâu (Rơc du) Phong tục thách (đòi) cưới của nhà gái: Như: Xanh đồng, lợn sống, gạo tẻ, nếp, rượu, sau này có bánh kẹo và tiền mặt .... Tùy theo mỗi dòng họ.Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác. Đến bây giờ các bước này đã không còn đầy đủ, phần lớn tùy thuộc vào từng gia đình và đã dần thực hiện theo nếp sống mới hiện nay.

Tang lễ: Tang lễ do thầy mo chủ trì cúng tế, gia đình mổ lợn, giết gà thông báo cho con cháu gần xa, thông gia (phe phá) đem đồ lễ đến cúng bái. Hình thức chịu tang của con cái trong nhà không khác so với người Kinh, tuy nhiên con dâu, cháu dâu chịu tang ông bà, cha mẹ còn có bộ trang phục riêng gọi là bộ quạt ma.

Ẩm thực: Các món ăn đặc trưng của người Mường như các món đồ, lam, nướng, món canh đắng, trước đây chủ yếu ăn xôi đồ, ít ăn cơm tẻ. Rượu của người Mường trước đây chủ yếu là tự siêu, rượu cần làm bằng các loại men lá được ủ bằng ngô, sắn và trấu, rất ngon bởi cách chế biến và hương vị đậm đà được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể. Hiện nay các món ăn của người Mường nơi đây cũng giống như người Kinh.

Trang phục: Trước đây người Mường ở vùng Lâm Xa nói riêng và người Mường Thanh Hóa nói chung cũng có trang phục rất đặc trưng. Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái. Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông. Nữ mặc áo ngắn chui đầu, gấu lượn, khi mặc cho vào trong cạp váy trang trí hoa văn và cao lên đến ngực. Trong các dịp lễ, Tết, họ mang chiếc áo dài xẻ ngực thường không cài khoác ngoài bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang trọng vừa phô được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong.

Tục lệ ăn tết cổ truyền: Người Mường cũng ăn Tết như người Kinh, đây là lễ tết quan trọng nhất trong năm, nhiều người đi làm thuê làm mướn để chuẩn bị cho cái tết chu đáo hơn. Gần tết đi những phiên chợ cuối năm để trao đổi, mua bán những mặt hàng cần thiết trong gia đình vào ngày 28 tháng chạp, mọi nhà đều tổng vệ sinh nhà cửa. Các vật dụng trong gia đình được rữa sạch, đến 29 gia đình mổ lợn để mừng tết, buổi tối gói bánh chưng để sáng 30 luộc bánh, chiều 30 cúng tổ tiên. Từ ngày 01 tết trở đi người Mường mới gọi là năm mới, là dịp để đi thăm anh em, họ hàng, cô, gì, chú, bác, ông bà nội, ngoại.

Ăn cơm mới: Vào cuối mùa gặt, tháng 6 và tháng 10 âm lịch, người Mường quan niệm rằng, để có mùa màng tươi tốt, bội thu phải có sự phù hộ của trời đất, tổ tiên, song chỉ tổ chức ở phạm vi gia đình, tuy nhỏ nhưng thực hiện ở diện rộng, tất cả các hộ gia đình đều cúng cơm mới, nên đã trở thành ngày tết chung cho cả cộng đồng…

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Người Mường ở Lâm Xa cũng như Người Mường nhiều nơi khác có truyền thống thờ Tổ tiên, bên cạnh đó còn thờ Vua Bếp, Thổ Công…Về cơ bản tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc Mường khá tương đồng với dân tộc Kinh. Thông thường người Mường lập bàn thờ và bát hương đến 4 đời (Cha, ông, cụ, kị).

Người Thái ở Lâm Xa chủ yếu là ở khu vực Quốc Thành chuyển đến. Người Thái cũng có những nét văn hóa độc đáo của Thái mường ngoài như: Khắp, các phong tục tập quán, các món ẩm thực đặc biệt là rượu cần…. Ngoài ra, phong tục ma chay, cưới hỏi đã giao thoa với người Mường và người Kinh, tạo ra phong thái độc đáo của xã Lâm Xa.

 Liên kết website